
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Cụ Dương Văn C (chết năm 2002), cụ Phạm Thị L2 (chết năm 1996) có 5 con chung là bà Dương Thị T, bà Dương Thị L1, bà Dương Thị L, ông Dương Văn B, bà Dương Thị H1. Vợ chồng cụ C tạo lập được khoảng 83.000m2 đất gồm đất thổ cư, đất vườn, đất lúa tại huyện Thạnh H, tỉnh Long An (trong đó cụ C đã được cấp 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 60.412,7m2 đất). Sau khi vợ chồng cụ C chết, anh Dương Minh H (con ông B) sử dụng các Biên bản họp gia đình ngày 20/11/2003, ngày 20/8/2004 để kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện Thạnh H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích 83.018,7m2 đất nêu trên.
[2] Bà T, bà L, bà H1 không thừa nhận có việc họp gia đình, xác định không ký Biên bản họp gia đình, đề nghị giám định đối với chữ ký, chữ viết đề tên các bà tại Biên bản họp gia đình ngày 20/8/2004 (do anh H xuất trình); đồng thời yêu cầu tuyên vô hiệu Biên bản ngày 20/8/2004, tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh H và yêu cầu chia di sản của vợ chồng cụ C đối với các thửa đất số 735, diện tích 8.429,3m2; thửa đất số 689, diện tích 7.299m2; thửa số 657, diện tích 5.098,9m2 (một phần diện tích đất mà cụ C đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Anh H thừa nhận toàn bộ diện tích 83.018,7m2 đất nêu trên là của vợ chồng cụ C để lại, nhưng cho rằng các con cụ C đã họp gia đình và ký các Biên bản họp gia đình ngày 20/11/2003, ngày 20/8/2004, nội dung thống nhất để lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho anh sử dụng.
[3] Biên bản họp gia đình ngày 20/11/2003 có nội dung các con cụ Chính thống để cho anh H được quyền sử dụng diện tích 60.412,7m2 (diện tích cụ C đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), có ông Nguyễn Văn R (Trưởng ấp Đ) ký làm chứng ngày 20/11/2003, được Ủy ban nhân dân xã Thạnh P chứng thực ngày 01/12/2003. Biên bản họp gia đình ngày 20/8/2004 có nội dung giống Biên bản ngày 20/11/2003 nhưng có bổ sung thêm cho anh H được hưởng 22.000m2 đất (diện tích cụ C chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), có ông R ký làm chứng ngày 05/9/2004, được Ủy ban nhân dân xã Thạnh P chứng thực ngày 08/9/2004. Ông R trình bày anh H nhờ ông xác nhận Biên bản ngày 20/11/2003, sau đó tiếp tục nhờ xác nhận Biên bản ngày 20/8/2004. Ông R cho rằng có chứng kiến các con cụ C ký tên vào biên bản, rồi mới ký xác nhận, trong khi Biên bản họp gia đình ghi lập ngày 20/8/2004 nhưng đến ngày 05/9/2004 ông R mới ký làm chứng. Ông Lý Văn R1 (Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thạnh P năm 2003) trình bày ngày 01/12/2003 có ký chứng thực Biên bản họp gia đình ngày 20/11/2003 do anh H cung cấp, ông không trực tiếp chứng kiến các con cụ C ký tên, nhưng có ông R ký xác nhận. Ông Nguyễn Văn Đ1 (Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thạnh P năm 2004) trình bày ngày 08/9/2004 có ký chứng thực Biên bản họp gia đình ngày 20/8/2004 do anh H cung cấp, ông không chứng kiến các con cụ C ký tên, nhưng có ông R ký xác nhận và các con cụ C mang chữ ký mẫu đến để đối chiếu. Tại Kết luận giám định số 4108/C09B ngày 31/10/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận chữ ký, chữ viết mang tên bà Dương Thị T, bà Dương Thị L tại Biên bản ngày 20/8/2004 không phải chữ viết, chữ ký của bà T và bà L; chữ viết, chữ ký đề tên bà Dương Thị H1 không đủ cơ sở kết luận. Mặt khác, ông R không phải cán bộ Tư pháp xã giúp việc cho Chủ tịch, Phó Chủ tịch xã thực hiện việc chứng thực, nên việc chứng thực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thạnh P tại các Biên bản họp gia đình nêu trên vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 11, khoản 2 Điều 24 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực.
[4] Các nguyên đơn chỉ yêu cầu chia thừa kế một phần di sản của vợ chồng cụ C, gồm thửa số 735, thửa số 689, thửa số 657 và yêu cầu tuyên bố Biên bản họp gia đình ngày 20/8/2004 vô hiệu (do anh H chỉ xuất trình Biên bản họp gia đình ngày 20/8/2004, không xuất trình Biên bản họp gia đình ngày 20/11/2003). Cả hai Biên bản họp gia đình nêu trên đều thể hiện các con cụ C đồng ý cho anh H 3 thửa đất đang tranh chấp. Do đó, Toà án phải xem xét đánh giá tính hợp pháp của 2 Biên bản nêu trên, để xác định 3 thửa đất mà các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế có còn là di sản của vợ chồng cụ C hay không, mà không phụ thuộc vào yêu cầu của đương sự. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thu thập được bản chính Biên bản họp gia đình ngày 20/11/2003 và các nguyên đơn đã yêu cầu giám định và yêu cầu tuyên bố biên bản này vô hiệu. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm lại cho rằng yêu cầu trên vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, nên không chấp nhận là không có căn cứ. Toà án cấp sơ thẩm cho rằng 2 Biên bản họp gia đình đã được Ủy ban nhân dân xã chứng thực là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh (trong khi việc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã Thạnh P vi phạm pháp luật về công chứng, chứng thực) là vi phạm các quy định về đánh giá chứng cứ. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng nguyên đơn không yêu cầu xem xét Biên bản họp gia đình ngày 20/11/2003 nên biên bản này đang có hiệu lực pháp luật, từ đó cho rằng 03 thửa đất tranh chấp không còn là di sản của vợ chồng cụ C là không đúng, mâu thuẫn trong nhận định của Tòa án và gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của các thừa kế của cụ C.
[5] Các đương sự đều thừa nhận toàn bộ diện tích đất (gồm cả 3 thửa đất tranh chấp) là của vợ chồng cụ C để lại. Thực tế, năm 1997 cụ C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có 3 thửa đất tranh chấp. Tòa án cấp phúc thẩm lại cho rằng đất cấp cho hộ gia đình cụ C, từ đó áp dụng khoản 2 Điều 76 Luật đất đai năm 1993, Điều 744 Bộ luật dân sự năm 1995 xác định anh H được tiếp tục sử dụng 02 thửa đất lúa (thửa số 689, thửa số 735) là không có căn cứ, không phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đối với thửa đất vườn (thửa số 657), Tòa án cấp phúc thẩm cũng nhận định các nguyên đơn không có yêu cầu tuyên bố Biên bản họp gia đình ngày 20/11/2003 vô hiệu, đồng thời cho rằng giao dịch về thửa đất này đã phát sinh hiệu lực, được thực hiện xong (trong khi giao dịch này vô hiệu ngay tại thời điểm xác lập), từ đó áp dụng điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 để dẫn chiếu áp dụng Điều 657 Bộ luật dân sự 2005 xác định đã hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế là áp dụng không đúng pháp luật, không đảm bảo được quyền lợi của đương sự.
[Nguồn: Quyết định GĐT số 33/2024/DS-GĐT ngày 24/6/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO]
Xem file đính kèm toàn văn Quyết định số: 33/2024/DS-GĐT